
Con đường đến trường Y của nó bắt đầu bằng những ý tưởng non nớt và ngây ngô của thời niên thiếu. Những năm học phổ thông trôi qua rất nhanh và thường rơi vào quên lãng. Đa số bạn bè từ lớp 1 đến lớp 12 chúng ta không còn nhớ, nhưng đây có lẽ là phần đời mà nếu như xin được 1 lần sống lại thì nó và bạn bè của nó sẽ lựa chọn
PHẦN 5.1 CẤP 1 NGÂY THƠ VÀ SUNG SƯỚNG
Theo trí nhớ của nó thì hồi đó ở cái Thị xã bé tí chỉ có 2 trường mẫu giáo và nếu như lúc các bạn nó đều đi học mẫu giáo thì nó lại lang thang rong chơi ở Tân dương vì mẹ nó chưa có việc làm. Nó đi học cấp 1 lúc mới có 5 tuổi và lần đầu tiên vào lớp 1 nó biết đến chữ “Học dự thính”. Sở dĩ nó được học dự thính là nhờ dì ruột nó dạy ở trường Nữ tiểu học Sa đéc. Lúc này mới giải phóng xong nên vẫn còn 2 trường Tiểu học, một trường Nam và một trường Nũ tiểu học Trưng Vương. Ký ức về thời tiểu học của nó không nhiều vì ngày xưa đi học cấp 1 chủ yếu là các trò chơi và chỉ học một buổi. Việc khó khăn nhất của nó khi học tiểu học là không biết hát. Lũ bạn của nó thì đã kinh qua lớp mẫu giáo rồi còn nó có được học hát gì đâu, ngay cả bài quốc ca nó cũng phải học lóm và cho đến năm lớp 2 nó mới thuộc. Về sau chính khả năng học lóm này giúp cho nó học những điều truyền miệng hết sức nhanh. Năm lớp 2 của nó là năm mà nó mắc bệnh sốt xuất huyết cùng với bọn trẻ trong mùa dịch năm 1978 – 1979. Hồi đó nó là một đứa bé gầy gò, ốm yếu và hình như cùng thời đứa nào cũng ốm do đói kém chung của cả xã hội. Nó nhớ con đường đến trường học ngắn thôi, không có “Cọ xòe ô che nắng”, không có chim hót như bài thơ “Đi học” nhưng trên đường có những món ăn mà tới bây giờ nó vẫn còn nghe mùi thơm đâu đây. Ăn sáng là một khái niệm cao xa với lũ trẻ, hôm nào được chén cơm chiên hay củ khoai lang bỏ bụng trước khi đi học là sang trọng lắm rồi. Có 2 món mà nó rất khoái là cơm tấm và xôi bánh phồng và là niềm mơ ước mỗi sáng đến trường. Trường học 7 giờ mớ đóng cửa nhưng hôm nào 6g hơn 1 tí là nó đã ôm cặp lên đường. Trường Nữ chỉ cách nhà nó khoảng 5 phút đi bộ nhưng thằng nhỏ khoái nhất là tà tà đi qua chỗ bán xôi xem bà bán xôi khéo léo xúc từng muỗng xôi nếp vàng óng, thơm phức có rắc muối mè và một miếng đường cát nâu, một chút dừa nạo bỏ vào miếng bánh phồng to vật vã , bóp nhẹ 1 cái và gói vào tờ giấy lịch đưa cho khách. Hôm nào có được 2 hào nó mạnh dạn đứng uy nghi trước bà bán xôi và gói xôi nóng hổi nằm gọn trong cặp nó là nó có cả một ngày vui. Còn cơm tấm đến 2 đồng một dĩa nên tụi nhóc tì như nó còn lâu mới có dịp vào quán ngồi ăn. Thực ra nói chữ quán cho sang chứ cũng là mấy cái bàn kê trên vỉa hè và một chỗ nướng thịt sườn thơm lừng. Sau này khi khá giả nó vẫn thích cái cảm giác ngồi quán cơm tấm vỉa hè chờ xem bà chủ nướng thịt và cắt từng miếng thịt thơm lừng, vàng óng ánh mỡ, rắc thêm chút mỡ hành, miếng tóp mỡ, một chút bì và khéo léo thêm một miếng chả trứng lên trên. Hôm nào đi học có được 5 hào thì sau khi sắm một gói xôi thì còn rủng rẻng 3 hào để ăn vặt và sẽ trở thành anh hùng trong đám bạn của nó.
Năm học dự thính qua nhanh và cuối năm nó mới biết là phải học tiếp 1 năm lớp một nữa. Cuối năm bọn bạn cùng lớp đều có giấy khen còn cô giáo chỉ nhận xét là nó học tốt và không có giấy khen gì cả. Nó cũng không nhớ rõ là năm học lớp 1 chính thức năm sau của nó như thế nào vì thực sự cũng trôi khá nhanh với những câu chuyện giống như năm trước nhưng cũng chính nhờ học thêm 1 năm lớp 1 nữa nó mới được học chung những người bạn mà sau hơn 30 năm ra trường tụi nó vẫn còn gắn kết với nhau.
Nó học dự thính thì ở trường Nam còn khi học chính thức thì lại học ở trường Nữ. Trường Nữ Trưng Vương nghe nói đã xây từ lâu lắm và cho tới nay ngôi trường vẫn ở đó, trường chỉ có tầng trệt thôi, với khoảng 30 lớp từ lớp 1 đến lớp 5. Trường có 3 cái cổng ở 3 mặt tiền, một cái cổng chính và 2 cái cổng phụ. trường lợp ngói và có một cái sân rất rộng với 3 cây phượng trong khuôn viên. Khi vào trường tụi học trò phải đi vào cổng chính và nó nhớ rằng 2 cái cổng phụ gần như chưa bao giờ thấy mở trong suốt 5 năm học ở đó. Hồi đó chỉ học 1 buổi, hoặc buổi sáng, hoặc học buổi chiều. Vì vậy tụi nhỏ có thừa 1 buổi để chơi đủ thứ trò trong xóm. Trong số bạn học cấp 1 nó nhớ nhiều nhất là thằng Nghiêm vì hồi đó 2 đứa ở gần nhà, cùng đường đi học và hồi đó tụi học trò hay kêu nhau bằng “trò”, ví dụ cô giáo bảo trò Bình và trò Nghiêm lên bảng làm bài hay khi trò Bình không đi học thì cô bảo trò Nghiêm đến xem sao trốn học. Hồi cấp 1 chuyện bị đòn là chuyện thường tình và nguyên nhân bị đòn thường là chơi đùa quá mức. Tụi nó bị đòn trong trường thì không sao nhưng sợ nhất là bị méc cha mẹ vì các lỗi mắc ở trường. Nó cũng nhớ trận đòn đầu tiên là do bị tụi học chung dụ hút thuốc năm nó học dự thính lớp 1 ở trường Nam. Nó nhớ ở nhà ba nó cũng hút thuốc và ông hay nói người lớn mới hút thuốc, nên vào giờ ra chơi năm lớp 1 dự thính cả đám kéo ra chỗ bán tạp hóa bên ngoài trường, nó thấy thằng bạn mua một điếu thuốc và phì phèo rất điệu nghệ nên mới hỏi hút ké, lúc đó hình như nó hút thuốc hoa mai hay gì đó, loại không có đầu lọc. Rít một hơi thuốc đầu đời nó ho sặc sụa, miệng dính mấy sợi thuốc lá đắng nghét, mắt cay xè do khói thuốc nó còn nghe thằng kia nói mầy thành người lớn rồi nhé. Hồi đó đọc truyện Duyên Anh nó nhớ tụi nhóc bụi đời trong truyện hút thuốc ngon lành lắm mà, vậy mà hơi thuốc lá đầu đời khác xa chuyện tiểu thuyết. Chưa xong, vào lớp tụi con trai còn nói với mấy đứa con gái vụ nó hút thuốc và thế là lúc cô giáo vào lớp có 1 đứa con gái(nó quên mất tên ) hết sức lễ phép đứng lên thông báo “Dạ thưa cô trò Bình hút thuốc”. Đầu tiên là phải tự vả vào mồm năm cái do hút thuốc, sau đó cả nhà nó được thông báo là nó hút thuốc trong trường và cái tội trả treo với cô giáo là “Ba con cho con tập làm người lớn”. Năm lớp 1 chính thức của nó thì lại trải nghiệm 1 câu chuyện khác, một câu chuyện mà nó và 1 bạn gái phải mang tiếng suốt thời học phổ thông. Số là cuối năm lớp 1 tụi nó định đi chụp hình kỷ niệm. Hẹn chụp cả lớp gần 30 đứa vậy mà đến ngày chụp hình ở chỗ bùng binh với ông thợ chụp hình tụi nó lại bẻ chĩa, không có đứa nào có mặt, chỉ còn nó và một bạn gái tên rất đẹp là Dị Thảo chụp thôi. Thế là khi có hình và tin đồn đến cả trường năm sau là 2 đứa nó chụp hình bồ bịch chung với nhau. Sau này lớn lên nhìn lại tấm hình đen trắng với hai đứa nhỏ ốm teo, mặt khờ câm vì phơi nắng trưa nó lại cảm giác hết sức tiếc nuối một thời khờ dại, mất đi một tình bạn quý báu vì những lời thi phi của tụi con nít vì sau này gia đình của cô ấy không cho học chung trường với nó nữa vì sợ mất duyên con gái người ta. Năm lớp 2 của nó cũng trôi qua khá bình thường, cho đến hè lớp 2 là năm nó cùng lũ trẻ ở Thị xã làm mồi cho lũ muỗi sốt xuất huyết( xin xem phần 1). Khi nó hồi phục lại sau khi bệnh sốt xuất huyết thì lại có một sự việc làm thay dổi quy mô của cái đại gia đình nhà nó. Những năm 1977, 1978 ở Thị xã có một phong trào vượt biên để thoát cảnh đói nghèo. Dì Tư của nó do cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên gạt nước mắt đóng tiền, vàng và dắt đứa con gái 5 tuổi lên tàu vượt biển. Chuyện vượt biên là trái pháp luật, rất dễ bị bắt và hiểm nguy luôn chực chờ trên biển vậy mà người ta thời đó hết sức hăm hở ra đi. Tội nghiệp bà ngoại nó, chuẩn bị nào lương khô, làm chanh đường phơi khô, thịt chà bông cho Dì Tư mang theo. Đổi đô cho dì và may tiền vàng vào cạp quần, lai áo để có tiền tiêu xài khi đến trại tị nạn. Nó cũng lẽo đẽo đi theo bà ngoại phụ giúp phơi đường chanh, xỏ kim cho bà để may vàng vào quần áo. Rồi mấy tuần sau nó thấy Dì Tư và con bé Trang đi mất. Dì Tư nó dạy học ở cái trường mà nó đang học, vậy là suốt mấy tuần nó phải bất đắc dĩ nói dối theo lời dăn của Dì, khi mấy cô dạy cùng trường hỏi tại sao Dì không đi dạy, lúc thì bảo dì bệnh, lúc thì phải bảo Dì giận chồng bỏ nhà ra đi,..Gần 6 tháng sau nhà nó cũng nhận được thư của Dì từ đảo Pu dong gửi về cho biết là đã đến trại tị nạn thành công. Thừa thắng xông lên, 1 năm sau đến phiên ba má nó cũng chuẩn bị lên tàu ra biển,khi Dì cho biết đã được nhập cư vào đất Mỹ.
Vậy là bên cạnh bà ngoại nó chỉ còn Dì Hai và má nó. Ý tưởng về chuyện học đại học đến với nó khá sớm vì trong bán kính 50 mét chỉ còn nó là thằng nhỏ nhất trong nhà, thằng nhóc thò lò mũi xanh đi theo 2 ông anh và 3 bà chị con Dì hai chơi và xem các anh chị học hành. Năm ông anh lớn nhất trong nhà đi thi đại học là năm nó học lớp 1. Nhà Dì hai nó có cái quán bán chuối chưng và xôi chè nổi tiếng cả cái thị xã. Ông anh Dũng lớn nhất và là thần tượng của nó từ nhỏ. Anh làm tất cả công việc trong nhà, từ nuôi heo, tắm heo vì Dì Hai nuôi heo để có tiền cho con ăn học. Sau này khi mở quán chuối xôi thì kinh tế nhà đỡ hơn và anh là người luôn dậy sớm nhất nhà. Từ 3, 4 giờ sáng đã nghe tiếng nạo dừa khô và tiếng đập chuối để chưng của anh Dũng và dượng Hai. Cực khổ, đói kém vậy mà anh là người đầu tiên trong gia đình bên ngoại nó thi đậu đại học trong lần thi thứ nhất. Bây giờ nó vẫn nhớ đó là một buổi trưa khi nghe tiếng ồn ào bên nhà Dì Hai, lò dò đi qua thì thấy anh Dũng vừa khóc vừa nạo dừa, Dì Hai thì đang đứng mắng anh xối xả vì anh đòi bỏ học. Bởi vì anh thi đậu ngành Kỹ sư Thủy nông mà do dượng Hai là sĩ quan chế độ cũ nên bắt buộc phải chuyển ngành sang học Sư phạm. Những năm 1976,1977 nếu không đi học đại học thì phải đi nghĩa vụ sang Campuchia chiến đấu và đó là những năm đánh trận ác liệt sống chết kinh hoàng. Như vậy anh Dũng phải chấp nhận chuyện đi theo một nghề không phải là nghề mà anh mơ ước, tuy sau này anh lại khá nổi tiếng là một giáo viên dạy Vật lý giỏi trong tỉnh Đồng tháp. Nghề chọn người rõ ràng như vậy. Cũng từ đó trong đầu nó việc thi đậu đại học là một mục tiêu sống còn, con đường học đại học là con đường giúp thoát cảnh thương vong khi đi lính. Sau này mỗi lần sang nhà Dì Hai lục lọi sách vở đầu tư cho con đường thi đại học thì nó luôn cố gắng đi tìm những quyển sách toán, lý, hóa có ghi tên anh Dũng và xin anh hay chôm chỉa để lấy may. Vậy đó, nhờ chơi chung và học theo các anh chị nhà bên mà nó có được cái tính chịu thương chịu khó, học làm đủ thứ. Nó trân quý từng kỷ niệm chơi chung với các anh, các chị, cho dù hồi đó chơi với các đại ca này phải luôn luôn đóng vai làm quân sĩ và chịu mọi sự sai phái của các đức vua và công chúa! Các anh chị luôn là những tấm gương về những đứa con ngoan trong gia đình, cho dù sau này mỗi người một hoàn cảnh, một lối sống và có khi đã quên hay không còn nhớ những ngày khốn khó xa xưa.
Đi học hồi đó mà bị đòn là chuyện thường tình, đứa nào không bị đòn mới là chuyện lạ. vô lớp quên mang tập là bị đòn, nói chuyện trong lớp thì bị đòn, đánh nhau, chửi nhau chắc chắn bị đòn.và còn vô số các chuyện khác vẫn có thể bị đòn mà nó nhớ không hết. Trận đòn te tua nhất trong thời cấp 1 là năm học lớp 3 với cô Diêu, bữa đó tụi nó chia phe chơi bắt rượt, chạy ngoài sân dễ bị bắt lắm nên tụi nó chạy vào lớp 3/4, thế là đội bắt cũng như đội rượt cùng nhau phi trên bàn, may mà không có đứa nào té gãy chân. Tụi con gái thì chơi nhảy dây ngoài sân, còn tụi con trai chơi bắt rượt trong lớp, hết giờ ra chơi cô vào lớp và mỗi đứa chơi bắt rượt được thưởng 5 roi vào mông, riêng thằng đầu têu là nó được 10 roi. Hồi đó bị đòn tụi nó không sợ bằng việc méc phụ huynh vì khi bị méc là sẽ tiếp tục được thưởng roi thêm ở nhà. Bây giờ giáo viên mà đánh học sinh thì bị đánh giá là phi giáo dục, còn thật may cho tụi nó nếu ngày xưa không có đòn roi chắc tụi nó không thể thành nhân như bây giờ. Năm lớp 3 nó còn bị thêm một lần thương tật nữa. Hồi đó mỗi lần sốt hay cảm là có 2 màn thường dùng để chữa trị mà tới bây giờ người ta gọi là y học dân tộc đó là cạo gió và giác hơi. Hôm đó nó bị cảm và được má nó giác hơi, con nhà có điều kiện nên đốt ống giác hơi bà dùng cồn 90 độ để trong 1 ống giác hơi giống như những ống giác hơi khác, khi hết các ống giác hơi trống bà cho một mồi lửa vào ống giác hơi này và úp lên lưng nó. Vậy là nó biết cảm giác vùng chạy với 1 vầng lửa trên lưng như anh hùng đốt kho xăng. Để vết bỏng trên lưng lành hẳn nó phải nằm ngủ trên 2 cái gối ôm, 1 cái trên vùng lưng trên và 1 cái dưới mông gần 2 tuần lễ. phải làm quen với cảm giác nhớp nháp dưới bụng và lưng suốt gần 3 tháng. Nó ôm cái bụng quấn băng đi học chỉ sau 1 tuần nghỉ học. Sau này lâu lâu ngủ mơ nó vẫn nhớ cảm giác đau rát kinh hoàng khi lửa cháy trên lưng. Nó tởn cái vụ giác hơi đến già. Đến khi học làm bác sĩ đi thực tập khoa bỏng nó vẫn không thể nào nhìn nỗi bệnh nhân ở khoa này, có lẽ vì nỗi đau ngày thơ của nó. Việc chịu đựng nỗi đau có lẽ dần dần làm cho nó luôn biết dằn lòng chịu đựng những nỗi đau từ thể xác đến tinh thần suốt cuộc đời sau này của nó. Trong năm học lớp 3 nó cũng gián tiếp tạo ra một vụ làm cho một bạn gái khóc nức nở, lần đó câu Sáu của nó gửi về mấy hộp chewing gum, nó vốn thảo ăn nên mang vào lớp chia cho tụi bạn ăn mỗi đứa 1 cái và lại bị vạ lây do 1 đứa táy máy trét lên tóc 1 bạn gái tên là Thiên Chi, trò này xinh lắm, có mái tóc rất dày và đẹp, da trắng tinh và có đôi mắt rất đẹp, thế là cô nàng vừa khóc vừa gỡ đám tóc rối nùi dính bệt kẹo cao su. Kết quả khi cô giáo vào nó lại bị vạ lây vì cung cấp công cụ gây rối. Sau này ở cấp 2 nó và bạn Chi cũng có thời gian chơi khá thân với nhau nhưng cũng chỉ được 1 thời gian ngắn do nó mặc cảm chuyện giàu – nghèo.
Cuối năm lớp 3 nhà nó chuẩn bị cho chuyến vượt biên theo tiếng gọi của sự giàu sang bên kia bờ biển. Những người sống bên kia đại dương lâu lâu cứ gửi những thùng hàng chứa các loại thuốc tây, kẹo bánh mà bán ra cũng mang lại 1 số tiền khá lớn. Những tấm hình màu sang trọng với xe hơi, nhà lầu, các loại tiền đô mà đổi ra là cả đống tiền Việt nam cho gia đình là lời khích lệ cho các thành viên trong gia đình mạnh dạn đóng tàu vượt biển. Gần như lúc đó nhà nhà vượt biên, người người vượt biên cho dù làm mồi cho bão tố, sóng dữ, cướp biển. Đi đâu cũng nghe giới thiệu mối này vượt biên tốt lắm, mối kia vượt biển thanh công. Sau này lớn lên nó mới biết để có những đồng tiền, những thùng hàng giá trị đó các ông, bà, cô, chú phải trần thân là làm thuê, làm mướn, cắt từng cái móng tay, móng chân cho khách hàng ở đất khách và chắt chiu nhịn ăn, nhịn xài từng đồng để gửi về cho gia đình bên này tiêu xài, phung phí.
Để có tàu vượt biên nhà nó và mười mấy gia đình nữa gom hết vàng bạc đóng cho ông chủ tàu và có cả một ông thầy bói cúng quảy hết sức trang trọng cho chuyến xuất hành đổi đời. Là thằng nhỏ hay hóng chuyện nên nó nhớ ông thầy cúng cam đoan là đẫ ếm xì bùa cho chiếc tàu để công an không thể thấy. Tàu sẽ ra biển từ đường Trà vinh và đã chuẩn bị đủ mọi thứ từ cơm khô, chà bông, quần áo giả trang làm ngư dân,.. chỉ chờ đến giờ G là xuất phát.Đúng thật công an không thấy tàu đâu, chỉ có du kích địa phương thấy và kết quả là mất luôn cái tàu. May mà không bị bắt người chứ không thôi nó lại có thêm trải nghiệm trại cải tạo trong đời. Vậy là nhà nó thêm một lần trắng tay và vụ này cũng là nguyên nhân để mỗi khi xích mích ba má nó đem ra chì chiết nhau , và từ đó cả nhà nó hết sức sợ hãi mỗi khi có ai đến nhà rủ đi vượt biên lần nữa.
Hồi đó đi học ngoài chuyện học hành, chơi các trò chơi thì chuyện ăn vặt là món mà tụi con nít mê nhất. Ở cổng trường của nó có 1 ông già chuyên bán đá bào và 1 anh chuyên bán kem ống. Kế bên là một bà bán bánh kẹp nướng. Hồi xưa tụi nhỏ bụng tốt hơn tụi nhỏ bây giờ, kem ống làm từ nước đừa, có vài hột đậu đen, mua 1 khúc thì 5 xu, 2 khúc thì một hào, đá bào thì 1 ly 2 xu lỡ húp hết siro đỏ lòm hay xanh lè cái loại siro mà có trời mới biết ổng làm từ cái gì thì xin thêm một miếng ông già cũng thương tình cho thêm mấy giọt. Hình như chưa có cơ quan an toàn thực phẩm và nếu có thì cũng chưa với tới cái cổng trường cấp 1 này. Nó với thằng Nghiêm thân là vì tụi nó hay mua chung đá bào và kem ống ăn chung và trò Nghiêm hay trò Bình không có tham ăn, mỗi đứa liếm một cái xong chuyển qua cho đứa kia nên ăn lâu hết. Ngoài thằng Nghiêm ra đối diện nhà nó là nhà của thằng Tí và con Trân. Hai đứa này trạc tuổi nó nhưng học khác trường, con Trân hơn nó 1 tuổi còn thăng Tí em con Trân thì bằng tuổi với nó. không biết ba mẹ tụi nó ở đâu chỉ nhơ là nó sống với ông ngoại trong 1 cái nhà rất hoành tráng và một ông chú là bác sĩ Huy, nhà này có 2 cô là chị của bác sĩ Huy, 2 cô cũng là cô giáo và chỉ nhớ là một cô tên Hồng mà 30 năm sau khi làm bác sĩ nó mổ bóc nhân xơ tử cung cho cô này. Xéo nhà nó còn có một gia đình có 3 đứa con, ông ba cũng làm giáo viên, thằng anh hai tên Đoàn và hai đứa em gái, thằng Đoàn sau này học chung nó ở cấp 3 còn hồi nhỏ nó gần như bù đầu chăm em và cũng khá ham chơi như nó và thằng Tí. Tụi nó hay bò ra đám cát trước sân nhà thằng Đoàn đào lỗ chơi bắn bi hay vào nhà thằng Tí chơi bắn dây thun. Tội nghiệp thằng Đoàn nhất khi hai cô em ở nhà mà tè bậy mà nó chưa kịp lau thì chỉ cần nghe ba nó hét lên “Thằng Đoàn đâu ” là thằng nhỏ mặt xanh lè ôm đít về nhà ăn roi. Sau này mấy anh chị em nó lập nghiệp ở Sài gòn cũng rất khá, mới đây ba nó còn được lên báo do đi phượt bằng ô tô từ Nam ra Bắc. Trong khi nó chưa mang được điều này đến cho ba má nó vì không còn cơ hội. Nó nhớ Thằng Tí rất ham tát cá trong vườn ông ngoại của nó. Mỗi lúc trời mưa, trong vườn lênh láng nước là thằng Tí lò dò qua nhà nó rủ rê đi tát cá, ông Bảy ngoại thằng Tí khó tính nổi tiếng trong xóm nhưng lại ủng hộ việc nó chơi với thằng Tí vì có lẽ nó ngoan và lễ phép?? Tát cạn cả cái ao nhưng có bắt được con cá nào đâu vậy mà cũng vui. Nhà thằng Tí có cái sân thượng rất dài và tới mùa diều, thường khoảng tháng 4, tháng 5 là hai thằng rủ thằng Nghiêm và thằng Đoàn, có khi thằng Hiếu trong xóm dán và thả diều. Sau này thằng Tí và con Trân nghe nói đi lên Saigon và nó không còn liên lạc nữa. Hiếu thì làm chủ vựa một kho trấu chuyên cung cấp cho các lò sấy và 30 năm sau nó mới gặp lại. Nó là con một cho nên luôn thích sống tập thể và chơi tập thể, tất cả tụi nhóc tì ngày xưa đều phải vào đội nhi đồng và đội thiếu niên tiền phong. Mỗi lần hè đến việc sinh hoạt hè cho con nít là cả một bầu trời rộng mở cho nó được đi đây, đi đó mà không bị ba má nó rầy. Tới lớp 5 nó đã được tham gia trại hè của tỉnh, được đi đến Cao lãnh cắm trại 3 ngày và từ đó gần như năm nào hè nó cũng xin đi dự một trại hè nào đó để được tiếp tục rong chơi suốt mùa hè. Nhờ sinh hoạt Đội nó mới có thói quen sống trong tập thể và biết khép mình vào tập thể, biết tự chăm sóc bản thân mà những chuyện học hỏi này hồi đó gần như miễn phí, không giống như bây giờ muốn con trẻ cắm trại hè hay tham gia các học kỳ quân đội thì cha mẹ phải tốn khá nhiều tiền. Năm lớp 4 má nó cũng bắt đầu khám bệnh ở nhà, vậy là mỗi buổi trưa hay chiều nó lại có dịp phụ bà gói thuốc, ngồi trông chừng nhà khi bà khám bệnh. Bắt đầu quen với mùi cồn sát khuẩn hăng hăng trong nhà, quen với những bữa cơm gia đình bị ngắt quãng do có khách đến khám bệnh vào giờ cơm. Cũng nhờ má nó làm phòng mạch mà nhà nó bắt đầu có tiền và chuyện nó khoái nhất là má nó và bà ngoại sửa nhà, vậy là nó có 1 cái gác gỗ nho nhỏ để làm giang sơn học hành, đọc truyện cho đến những năm cuối cấp 3. Nó vẫn luôn yêu thương cái gác nhỏ ngày ấy với cảm giác rung rinh mỗi khi bước, do ông thợ già ngày xưa đóng gần 3 tháng. Cái gác gỗ mà nó bỏ công với ba nó mua dầu nhớt phết đều để chống mối mọt. Cái gác gỗ mà mỗi đêm chong đèn học thâu đêm để hy vọng sau này giàu sang. Và cái gác gỗ cũng là cái giường tân hôn của nó và vợ nó khi về nhà ngày đám cưới.
Đến khoảng năm 1982 một trung tâm Anh ngữ được mở ra tại Thị xã của nó. Hình như hồi đó ở chỗ của nó người ta ham học dễ sợ hay có lẽ rất nhiều người lớn ở chỗ nó mộng được giỏi tiếng Anh để xuất ngoại theo đủ mọi cách và có lẽ đây là một trung tâm ngoại ngữ được mở sớm nhất và quy mô nhất tại một tỉnh lẻ. Địa điểm học là ở ngay trường Nữ, vào ban đêm. Thầy cô đứng dạy trung tâm là những thầy cô đã từng làm cho Hội Việt Mỹ ngày xưa và một số thầy cô đang dạy ngoại ngữ tại các trường phổ thông tại Thị xã. Lớp học sử dụng các tài liệu từ trước giải phóng, được các thầy cô in Ronéo các quyển English For Today. Hồi đó học các trang sách trên giấy vàng khè, chữ được chữ mất, lúc thì giấy in lủng lỗ, mất trang do sử dụng giấy tái chế học viên thường nhăn nhó, nhưng sau này nhìn lại công việc đồ sộ của biên soạn lại bộ giáo trình này nó mới nhận ra là không chỉ học trò thời đó ở Thị xã ham học mà các thầy cô đã rất ham dạy, họ hết sức nhiệt thành trong việc truyền dạy kiến thức cho các thế hệ sau. Có thể là một cách mưu sinh của thầy cô trong thời buổi khó khăn nhưng hồi đó nó nhớ học phí cho một khóa học chắc cũng bằng chừng 3 tô hủ tiếu gõ bây giờ mà thôi. Nhờ những lớp học này nó và những đứa bạn cùng trang lứa sau này có một vốn tiếng Anh khá lớn và vẫn còn hữu ích cho đến ngày nay. Lớp học thường vào các tối thứ 2,4,6 hay vào thứ 3,5,7. Vậy là từ 6g30 tui nhỏ lại có cơ hội tụ tập trong cái trường mà tụi nó đã học ban ngày và những lúc nghỉ giữa 2 tiết học lại tiếp tục bày các trò chơi như quay dĩa, cá sấu lên bờ,bắt rượt,… các lớp học không có phân biệt lứa tuổi, cũng chẳng có cấp chứng chỉ gì cả, chỉ học và nó cũng không nhớ là có thi hay không, chỉ nhớ là có làm bài kiểm tra mà thôi và cũng có chấm điểm kiểm tra. Học viên cứ học hết lớp 1 thì khóa sau học tiếp lới 2,… và cứ thế. Lớp học đầu tiên nó học chung với khá nhiều bạn như Quốc, Nghiêm, Tín, Diễm, Thảo, Nga, Oanh và cô giáo đầu tiên là cô Vân, nghe nói cô trước đây làm ở Sở Mỹ, và trò chơi mà có lẽ các bạn nó cũng còn nhớ là cô cho tụi nó đóng một vở kịch tiếng Anh có sử dụng con rối giấy tự tay cô hướng dẫn chúng làm. Trung tâm hoạt động cũng khoảng 5,6 năm gì đó. Nó nhớ đến khoảng lớp cuối cùng đi học vào trung tâm đóng tiền thì chỉ còn nó, thằng Quốc , Oanh và Diễm, Thảo đi đăng ký và trung tâm cho biết không đủ sĩ số để mở lớp cho trình độ của tụi nó, ghê thật học đến khi hết lớp ngoại ngữ. Sau này nó mới phát hiện ra những anh chị lớn hơn học cùng lớp một số thì đi học đại học, các anh chị lớn hơn nữa thì đi xuất cảnh theo đủ mọi cách từ H.O đến O.D.P, số còn lại bươn chải mưu sinh nên không còn đi học nữa và hình như 1, 2 năm sau thì trung tâm cũng đóng cửa. Nhờ đi học thêm tiếng Anh mà nó vô tình tìm được quyển truyện ngắn của tác giả Jack London, truyện đầu tiên mà nó dọc là truyện “The love of life” – Tình yêu cuộc sống kể về một anh chàng đi bộ vượt qua một khoảng trống chết chóc để tìm về cuộc sống, vượt qua đói rét, chiến đấu với con chó sói cũng đang thèm thịt của anh, dùng hơi tàn để chiến thắng con sói và mang túi vàng về đến con tàu cứu sinh của mình. Trong lúc học anh văn nó cũng quen với anh Vinh, anh là người giới thiệu cho nó đi thuê quyển “Đèn không hắt bóng” ở chỗ cho thuê sách duy nhất của Thị xã. Sau này anh Vinh đi đoàn tụ với gia đình ở Mỹ và nó không còn liên lạc nữa. Cũng từ quyển Tình yêu cuộc sống nó bắt đầu thần tượng nhà văn Mỹ này và hễ nhà sách có bán quyển truyện dịch nào của ông là nó mua bằng được. Quyển truyện mà nó thích nhất và gợi lên trí tưởng tượng của nó nhiều nhất về thời tìm vàng ở châu Mỹ là quyển “Tiếng gọi nơi hoang dã”, nó cứ thích đọc 1 đoạn rồi nhắm mắt tưởng tượng ra cảnh những cánh đồng băng bao la với những người mặc áo lông trượt theo những chiếc xe chó kéo, trĩu nặng những túi vàng sau lưng. Quyển cuối cùng của nhà văn này là quyển “Văn phòng ám sát” hình như là quyển tiểu thuyết trinh thám duy nhất của ông và dự đoán kết cục của ông luôn. Khi đọc hết quyển này nó mới xem lại tiểu sử của ông và biết sau khi quyển này thành công không lâu thì ông cũng tự sát mà chết, cũng như nhân vật ông trùm trong truyện này. Sau này lớn lên khi đọc sách, đọc thơ và nghe nhạc nhiều thì nó nhận ra rằng các tác giả khi muốn câu chuyện hay tác phẩm họ viết thành công thì thường phải dùng tất cả những cảm xúc vui, buồn từ tận đáy lòng, những trải nghiệm đau thương của chính bản thân mình, bộc lộ ra hết cho bàn dân thiên hạ xem, đọc và mổ xẻ. Cũng có lẽ nó không quen bộc lộ bản thân cho nên mới chọn một nghề mà nói ít hơn làm, nghề mà phải luôn làm chủ cảm xúc. Vui thì thường ngắn ngủi nhưng những chuyện buồn thì thường phải giấu kín trong lòng vì nói ra thì chưa chắc ai cũng hiểu.

Leave a comment