Nói chữ lập nghiệp cho sang chứ ngày 2 vợ chồng nó bắt đầu ra riêng tại Saigon thì tài sản gom lại chỉ gồm 2 cái tủ 1 bằng nhôm có cái. ngăn bé bé bên trong có ổ khóa để đựng những gì có giá trị nhất của tụi nó và 1 cái tủ vải để treo quần áo và những gì còn lại của những năm học Y chỉ có gần 10 cái thùng giấy đựng toàn sách vở và chiếc xe gắn máy đã đi theo tụi nó không biết bao nhiêu quãng đường. Để giải trí tụi nó có 1 cái máy cassete mua hồi thời sinh viên và 1 cái ti vi trắng đen cũ mua lại từ một ông dượng bà con của vợ nó. Khu quận 10 là chỗ có nhiều nhà cho thuê và gần trường Y nhất nên căn phòng đầu tiên tụi nó thuê nằm trong 1 con hẻm sát bên siêu thị Big C bây giờ. Trong khu này có rất nhiều nhà của các sĩ quan quân đội xây để cho thuê. Căn phòng của tụi nó khoảng 10 m vuông được ngăn cách với phòng của 2 vợ chồng chủ nhà bằng một tấm ván ép nằm ở lầu 1, cũng có cái cửa ra vào riêng biệt, diện tích thì vừa đủ cho một tấm chiếu 1,6m còn toàn bộ dọc vách ván tụi nó để những cái thùng sách vở, làm thành cái mấy cái kệ kê tivi và làm bàn viết. Bà Hằng chủ nhà cho mượn một cái bàn sắt để ngay chỗ chiếu nghỉ cầu thang để làm bếp, trên cái kệ bếp này kê 2 cái bếp dầu hôi là tài sản hồi đi học và 3,4 cái nồi bé bé và mỗi thứ chén dĩa, tô tộ đều là 1 cặp vừa đủ cho cả hai đứa nó thôi. Nhà có thêm 2 hộ thuê nữa, phía sau cùng tầng là một cô gái không biết làm nghề gì, thuê hẳn 1 phòng riêng và ở có 1 mình. Tầng trệt thì có 1 nhà 6, 7 người thuê, nghe nói là dân quận 4 giải tỏa nhà nên dọn qua đây ở chờ xây nhà mới. Ở Saigon có cái hay là mạnh ai nấy ở và việc ai nấy làm nên tụi nó cũng chẳng mấy khi nói chuyện hay đụng chạm đến mấy gia đình ở chung. Chỉ có cái gia đình bà chủ vì ở sát nách và thói quen của mấy người miền ngoài là ăn to, nói lớn nên nhiều buổi 2 vợ chồng bị điếc tai vì họ nói chuyện mà giống như cãi lộn. Mỗi sáng nó đi làm tại trường Mẫu giáo ở đường Trần Quốc Thảo, còn vợ thì đi trình dược nên thường vợ nó đưa nó đến trường rồi đi làm. Công việc ở trường cũng nhẹ nhàng, buổi sáng phụ huynh những trẻ bị bệnh ghé phòng y tế của nó gửi thuốc dùng hàng ngày, nó vào sổ và chờ đến giờ để xuống tận lớp phát thuốc và cho mấy đứa trẻ uống thuốc. Phòng y tế nói cho sang thực ra là một căn phòng tận dụng cái góc cầu thang phía sau cái bàn kế toán của trường, cũng được đóng bằng nhôm và có cửa nẻo hẳn hoi, trong phòng có 1 cái bàn để khám bệnh và 1 cái tủ thuốc và 1 cái giường khám bệnh và cho tụi nhỏ bị bệnh nằm nghỉ khi chờ phụ huynh đón về nếu bệnh nặng. Ngày mới vào làm nó cũng lo lắm vì từ khi đi học đến giờ chưa bao giờ tự thân vận động, tự khám bệnh và cho thuốc nhất là tụi trẻ con nên cũng phải học lại hết mấy bệnh nhi khoa thường gặp, cách điều trị và những biện pháp đề phòng chấn thương và tai nạn của trẻ con . Chị Tuyền là kế toán và cô Trang là người hay nói chuyện với nó nhất vì hai cô hay ngồi ở chỗ thu tiền của phụ huynh. Cô Hương là hiệu trưởng và ngoài ra còn 2 cô hiệu phó nữa tên Huệ và một cô tên Tuyết. Trường có 15 lớp từ 3 tuổi đến 5 tuổi nằm trên khu nhà 3 tầng lầu và một khu văn phòng của Ban Giám hiệu. Lương của trường học mỗi tháng được 650 ngàn đồng cũng vừa đủ tiền trả tiền nhà hàng tháng, mọi chuyện ăn, uống đi lại phải nhờ vào lương trình dược của vợ nó. Buổi tối con nhỏ vẫn còn đi dạy thêm cho hai con bé học trò từ hồi còn học Y nên chiều tối hai vợ chồng nó cũng long rong đến 8,9 giờ tối mới về phòng trọ. Mấy năm này tivi buổi tối chiếu phim nhiều tập”Anh em nhà bác sĩ” mỗi tối về hai đứa nó xem phim say sưa và mơ đến một ngày trở thành bác sĩ sang trọng như những nhân vật trong phim. Nghĩ lại cũng buồn cười vì những mơ ước cao quý từ hồi nhỏ để cố gắng vượt qua mọi khó khăn vào một cái trường danh giá hồi đó lại đâu mất tiêu chỉ còn lại những vất vả của chuyện mưu sinh ngày thường, chuyện này tất cả những ai muốn lập nghiệp tại cái thành phố “củi quế, gạo châu ” cũng phải vượt qua thôi. Làm ở trường học vài tháng thì phụ huynh bắt đầu quen với cái tay bác sĩ non choẹt(người ta còn bảo là đẹp trai nữa, không biết có đúng không), nhưng nhiệt tình và cũng nhờ trời thương và nhờ chịu khó học hành nên mấy đứa bé trong trường đỡ phải nghỉ học vì mấy bệnh lặt vặt hay gặp. Mỗi buổi chiều nó cũng chịu khó khám bệnh cho mấy đứa bé khi phụ huynh đón con và bắt đầu kê toa thuốc để phụ huynh về mua cho mấy đứa học trò uống. Đợt xổ giun cho toàn bộ trẻ đầu năm học là đợt điều trị cộng đồng đầu tiên trong đời nó. Hơn 280 đứa bé mà nó cùng với 30 cô giáo cho uống thuốc trong 2 ngày một cách gọn gàng, tụi nhỏ sợ bác sĩ hay thương nó nên uống thuốc rất giỏi và không có đứa nào nôn ọe gì cả. Cô hiệu trưởng cũng khen nó vì mấy năm trước mấy cô cho uống cũng khá vất vả, rồi còn chuyện mua thuốc gì lại phụ thuộc vào phụ huynh rồi có người nhớ mang thuốc cho con có người quên nên không uống đồng loạt được, còn năm đó nó thu tiền và đi mua thuốc 1 lần luôn nên thuận tiện và nhanh chóng. Trong tổ của nó có bác sĩ Thảo đang làm không công ở bệnh viện Chợ Rẫy, tên này có vợ làm Nha sĩ, không nhớ tại sao nó liên lạc được với tên này nên vào học kỳ 2 nó tổ chức một buổi khám răng miệng cho toàn bộ học sinh của trường, lần đầu tiên trường này được tổ chức một buổi khám hoành tráng như vậy với chi phí cũng rẻ và cả 3 bên đều hài lòng với kết quả, phụ huynh thì cũng có thông tin về tình trạng răng miệng của con mình để có kế hoạch chăm sóc răng cho tốt. Thời đó máy vi tính mới có và những việc soạn thảo văn bản cũng còn mới, cô Trang thư ký của nhà trường cũng có lúc làm không kịp nên vào những buổi chiều rảnh rỗi nó lò dò xuống khu văn phòng để làm phụ, cái chính là nó có cơ hội thực hành mấy cái chương trình soạn thảo và sau này cũng là một nghề tay trái kiếm cơm khác của nó. Trong trường ngoài cô Hương là hiệu trưởng còn có cô Tuyết và cô Huệ là hiệu phó, lúc đó chắc nhìn nó thấy tội nghiệp lắm nên lâu lâu mấy chị hay bàn tán với nhau làm sao để cho nó có cái hộ khẩu thành phố, vì cái hợp đồng làm việc của nó chỉ là dạng hợp đồng ngắn hạn nên cũng không giúp ích gì cho việc này. Cái chuyện hộ khẩu bây giờ không còn nặng nề như hồi 2,3 mươi năm trước, có hộ khẩu là có thể xin việc làm nhiều chỗ và có cơ hội làm đúng nghề cũng như vào biên chế của bệnh viện. Cô Hương là một giáo viên rất yêu mến con trẻ và sau này khi con nó đi học chị cũng giúp nó nhiều khi chăm cả hai cái cục con gái của nó. Ngẫm lại cũng duyên số cả đấy mà nhờ những ngày làm tốt công việc ở trường mà sau này chuyện học hành của con cái cũng thuận lợi nhờ sự giúp đỡ của vị sếp đầu tiên trong cuộc đời nó.
Những năm đó mới mở cửa và thuốc men sử dụng rất thoải mái nên những hãng dược nào có quan hệ tốt với các bệnh viện thì bán thuốc chạy lắm. Vợ nó cũng hay đi công tác ở tỉnh, có lần 2 vợ chồng nó ôm một lô thuốc trị giá cả trăm triệu đồng đi giao ở Vĩnh long và Cần thơ bằng xe đò. Khi đó chưa có cầu Mỹ thuận và Cần thơ, tụi nó khởi hành từ bến xe Miền Tây từ sáng và tới khi giao xong thuốc ở Cần Thơ thì chỉ còn 1 chuyến phà cuối cùng qua bến Bình minh, hai đứa ôm gần 2 trăm triệu leo lên cái xe lôi máy chở cả chục mạng chạy bạt mạng trên con đường tối thui từ Bình Minh về Vĩnh Long mà trong bụng cứ lo bị cướp tiền vì cái túi tiền căng phồng nó ôm trong bụng là cả một gia tài. Đến Vĩnh Long thì không còn chuyến xe nào về Saigon nên 2 đứa nó thuê một ông honda ôm về thẳng Sa đéc, đến nhà gần 12 giờ đêm, má nó hỏi hai đứa đi ăn trộm ở đâu mà giờ này xuất hiện. Hôm sau 2 đứa mới đón xe về Saigon, kiếm tiền cực thật nhưng hồi đó còn trẻ, mỗi tháng có nhận lương, có tiền trang trải cuộc sống thì tụi nó cũng thấy đủ vui rồi, nhất là ở lại tại Saigon no, đói cùng nhau và không có ai soi mói giàu nghèo ra sao. Khi còn đi học tụi nó hay đi chợ Nguyễn Tri phương mỗi cuối tuần, đây là khu chợ có bán đủ thứ đồ ăn và giá thường rẻ hơn mấy cái chợ khác. Sau này ra khu Tô Hiến Thành ở tụi nó cũng hay quay lại chợ này để mua sắm mỗi cuối tuần và lúc có tiền nhiều hơn cũng hay mua đủ các loại bánh trái để ăn vặt. Chợ Hòa Hưng thì gần hơn nhưng đi chợ thì lại không có chỗ để ngồi chờ và vợ nó cũng không quen nên chỉ hôm nào về trễ hay cần mua đồ ăn lắm thì tụi nó mới ghé.
Ở cái nhà đó được 2 tháng thì bà chủ cho hay sắp tới sẽ sửa nhà lại,xây thêm tầng để tăng số phòng cho thuê. Những ông bà này kinh doanh rất giỏi, họ xin giấy phép xây 3, 4 tầng gì đấy nhưng chỉ đủ tiền xây 2 tầng thì họ cứ xây, xây xong 2 tầng thì họ cho thuê vài năm sau đủ tiền họ lại tiếp tục xây thêm 2, 3 tầng nữa để tăng thêm thu nhập, còn căn nhà nếu có ai trả được giá thì họ bán và lại xây thêm nhà khác cứ thế mà dần dần giàu sụ. Cô gái ở phòng sau dọn đi trước nhất và 2 đứa nó được bà chủ gia ân cho ra cái phòng này ở mà không thu thêm tiền, vậy là tụi nó có một cái không gian lớn hơn để ở, có cái ban công phía sau để đặt bếp nấu ăn và có hẳn một cái nhà tắm và toa lét riêng biệt. Gia đình ở tầng dưới dọn đi tiếp theo, không biết hồi đó họ làm nghề gì mà thấy suốt ngày chơi bài và cá ngựa thôi, chỉ có một cô con gái út nghe nói buôn bán gì đấy và cũng ăn diện sang trọng lắm. Gia đình này chỉ làm tụi nó phiền 1 việc là hay mượn cái tô kiểu của tụi nó để đổ xúc xắc cho “ngon” thôi, gia tài có 2 cái tô mà lúc nào cũng thấy 1 cái bị một nhóm người xăm trổ mang ra làm dụng cụ cờ bạc thì cũng xót nhưng đâu dám từ chối. Sau này gặp lại cô con gái út cũng kinh doanh giỏi và có 1 cái cửa hàng bán đồ thời trang tại đường Đồng khởi, con dâu của nhà này và cô út sau này cũng là khách hàng của nó suốt nhiều năm.
Nhớ lại lúc xưa nó ngạc nhiên vì 2 vợ chồng nó có khả năng chịu đựng những khó khăn mà bây giờ không tưởng tượng ra được. Đối phó cơm áo gạo tiền, nào là mỗi lần về quê trên chiếc xe bé xíu chở đồ đạc cồng kềnh, có khi đi giữa trời mưa, trời lạnh thấu xương, nhất là cái năm lũ ngập cái quốc lộ 1A làm cho không biết bao nhiêu chiếc xe chết máy, xe máy thì phải bỏ lên xe đò hay xe tải mới về đến quê được. Năm đó tụi nó về đến nhà ở Sadec, ướt sũng vì trên trời thì mưa, dưới đất thì nước ngập, anh Dũng nhà bên hỏi tụi nó làm sao về được tụi nó chỉ biết cười và nói là đi thì đến thôi anh. Có lẽ có một bạn đồng hành trong cuộc đời phù hợp thì đi bằng phương tiện nào hay khó khăn như thế nào thì rồi cũng đến đích thôi, hay đơn giản là “Điếc không sợ súng” hay “Khổ mà không thấy khổ là sướng” vậy thôi. Những tháng ngày chờ đi học nội trú của nó cứ trôi với công việc khám trẻ trong trường học của nó và công việc ngày trình dược, tối dạy kèm của bà xã nó, hết tháng thì có bà chủ nhà trọ nhắc nhở “Tới ngày đóng tiền rồi nghe em”. Những mơ ước cao quý của 2 đứa nó tạm thời được xếp lại, bỏ sâu vào túi áo, túi quần chừa chỗ cho chuyện đối phó với cuộc sống tự lập hàng ngày, có khó khăn một chút nhưng có lẽ nhờ cái tuổi trẻ, nhờ những vất vả mà tụi nó đã từng kinh qua nên cũng thấy nhẹ nhàng thôi. Chỉ có những đêm cúp điện nằm trong cái phòng bé xíu, tối thui một tay cầm tờ báo quạt suốt đêm cho bà xã chui trong nách nó, nó cứ thao thức vì tương lai sao mù mịt quá, chỉ biết trông hai chuyện một là nhanh có điện trở lại, hai là trời mau sáng để bớt khổ thôi. Khổ nỗi ở quê tụi nó người thân, hàng xóm, bạn bè ai cũng lác mắt và có phần ghen tị với tụi nó vì chỉ biết là hai vợ chồng bác sĩ, ra trường làm việc tại Saigon chắc kiếm tiền cũng bộn lắm và không mấy chốc sẽ thành tỷ phú. Sở dĩ nó nói như vậy vì ngày đám cưới nhà nó cũng làm xôm tụ lắm vì là đám cưới của con trai duy nhất của một gia đình mang tiếng là khá giả tại Thị xã. Trở lại cái vụ này nó nhớ lúc tổ chức đám cưới ba má nó mời mấy trăm khách, làm tại một cái nhà hàng to nhất thị xã lúc bấy giờ. Khách của nó chủ yếu là bạn bè hồi phổ thông, những đứa cùng học đại học sau khi ra trường thì tứ tán hết nên nó cũng không mời, chỗ trường học thì nó chỉ gửi thiệp báo tin và xin nghỉ mấy ngày, ở bộ môn Sản mà nó đi học nó cũng chỉ gửi thiệp báo tin, có lẽ vì ngày xưa bác sĩ nột trú có một nguyên tắc 3 khoan”Chưa yêu thì khoan yêu, yêu rồi thì khoan cưới, cưới rồi thì khoan có con” nên nó cũng sợ ảnh hưởng đến chuyện học hành của nó. Không biết việc nó không mời có làm cho những người lớn thấy mất lòng không nhưng chuyện xe cộ, đi đứng ngày xưa khó khăn vất vả hơn bây giờ nên nó sợ làm phiền người khác, mặt khác nhiều lần nó thấy người ta nhận thiệp mời đám cưới đều sợ xanh mặt vì lo tốn tiền mừng và hay bảo vui là giấy báo nợ đến rồi.
Quê vợ là ở Trà cú, Trà vinh cái chỗ mà hồi nhỏ vợ nó sống như trong vườn cổ tích với cái gia đình 6 anh chị em nheo nhóc nhưng đầm ấm. Khu này người dân đa số là người Kh’me và người Hoa lưu lạc sang Việt nam mấy mươi năm. Chuyến đi đám hỏi của nhà nó về Tập sơn cũng đơn sơ chỉ có ba má nó và bà ngoại nó. Hai nơi chỉ cách nhau có trăm mấy cây số nhưng đi mất gần 4,5 tiếng đồng hồ vì đường quá xấu, hư hỏng nhiều và xe cộ cũng đông đúc vì là đường độc đạo nối với Trà Vinh. Lần đám hỏi đó ba vợ có cho nó một câu mà sau này nó vẫn nhớ”Trang Thị Xuân Uyên ngoài học giỏi thì không có gì đáng khen”, có lẽ ông sợ con gái cưng của ông về làm dâu không tốt nên dặn dò trước, nhưng thực ra con Ba cũng có nhiều điều đáng khen lắm ngoài chuyện học, đối với cha mẹ con cái dù bao nhiêu tuổi vẫn là một đứa bé trong mắt họ mà thôi, cho con gái về nhà chồng thì cha mẹ có lẽ mất đi một khúc ruột của mình mà. Ngày đám cưới của nó vào giữa tháng năm, khách mời chủ yếu là của ba má nó, hai đứa nó cũng ra chỗ in thiệp cưới ở đường Lý Thái Tổ chọn mẫu và in cho trang trọng, đa số đám cưới thời đó mua các loại thiệp in sẳn còn in thì tốn tiền hơn, chỗ tên khách mời thì sẽ viết tay. Khách của ba nó chủ yếu bà con , bạn bè ở vùng quê nên ông thuê hẳn 1 chiếc tàu khách chở hết khách mời đến thẳng cái nhà hàng ven sông, khách của nó chủ yếu là bạn học phổ thông và một đứa bạn cũng quê cũng làm bác sĩ sản tên Trí. Không cần biết ở nhà chuẩn bị cưới xin ra sao tụi nó về nhà gần như sát nút ngày cưới, đến nỗi vợ nó trên đường về chưa tới nhà thì ba vợ nó gọi điện thoại lên Sa đéc hỏi xem con gái ông có về kịp không, không phải tụi nó muốn dây dưa gì cả mà do lúc đó nó mới đi học nội trú vài tháng, chuyện xin nghỉ học khá khó khăn, nhất là nó chỉ gửi thiệp báo tin cho bộ môn Sản mà không gửi thiệp mời và vợ nó phải chờ lãnh lương để có thêm tiền chi xài lúc làm đám cưới. Má nó lúc đó cũng thương vợ nó lắm, bà may cho 1 cái áo dài cưới bằng gấm màu đỏ và đi thuê 2 bộ áo đầm cưới màu trắng, màu hồng và rất đẹp, cũng thuê mấn đội đầu và áo khoác satin trắng đàng hoàng. Hồi nhỏ nó đọc quyển truyện “Cánh buồm đỏ thắm” của một nhà văn Nga và vẫn còn ấn tượng nên ngày cưới nó thuê một chiếc xe hơi màu đỏ và trên nắp capo là một bó hoa hồng tươi đủ màu, thị xã của nó nổi tiếng với vườn hồng ông Tư Tôn, một ngày trước đón dâu nó và anh Cường sang vườn hồng và gặp ông chủ vườn vừa đặt hoa gắn trên xe và bó hoa cưới, riêng bó hoa cưới là đủ 27 bông(tuổi vợ nó) và hy vọng sẽ đón được một nàng công chúa như câu chuyện lãng mạn mà nó đã từng đọc hồi bé. Lúc đó phía trước nhà là một cái sân rộng lắm và dì hai có làm 2 cái nhà lá để bán quán nên việc trang trí thành cái nhà tiệc cưới cũng dễ. Hóa ra nó cũng là người khá lãng mạn, khi bây giờ nhớ lại. Hai nhà gái và trai chỉ cách nhau hơn trăm cây số, nhưng đường đi từ Đồng tháp sang Trà vinh có khoảng 30 cây số toàn là ổ voi không nên phải đón dâu rất sớm dể về nhà kịp giờ làm lễ là 11g trưa. Nó thấy nhà tổ chức đám cưới cũng khá long trọng. cái đêm trước đón dâu cả họ nhà ngoại nó tập trung và nó phải khoanh tay mời trà nước cả họ và nghe dặn dò đủ thứ về cuộc sống vợ chồng cũng như nghe các lời chúc tụng của họ hàng bên ngoại, có quay video và chụp hình như là một model thời đó. Bên nội nó thì ba nó tổ chức riêng và nghe nói có đãi cả heo quay và nhậu nhẹt linh đình lắm
Ngày đó nó cũng có chút ít kinh nghiệm về cái màn lễ nghi lúc cưới vì cũng ngồi chầu rìa vài cái đám cưới trong nhà. Bà ngoại và ba nó cũng hướng dẫn nhiều màn lắm, riêng cái màn lạy bàn thờ gia tiên cũng phải tập mướt mồ hôi dưới sự hướng dẫn ít nhất 4, 5 chuyên gia mới gọi là tạm ổn. Cái đêm trước đón đâu nó và thằng Đảm nằm tâm sự cả đêm và phải lo chuẩn bị mấy thứ như khay rượu lễ để phụ rể bưng sao cho gọn không bị đổ và cặp nến cưới tẩm dầu trước để khi đốt cháy cho dễ vì nó sợ mấy thứ này không ổn thì hôn nhân sau này không tốt. Cũng khá là ấu trĩ nhưng nghĩ lại nó cũng thể hiện sự nghiêm túc với chuyện này. Mơ tưởng khá nhiều nhưng khi nó gặp mặt cô dâu thì hết hồn vì hôm đó bà thợ trang điểm làm mặt cho vợ nó ý chang một bà phù thủy. Sau này nó hay kể cho 2 đứa con là đón nhầm một bà phù thủy thay vì một công chúa như nó tưởng tượng hồi còn bé. Vậy mà cũng đã hơn 25 năm cùng chia ngọt sẻ bùi cùng bà phù thủy này rồi. Những khó khăn của cuộc sống mưu sinh hàng ngày cũng từ từ thành chuyện nhỏ vì tụi nó có nhau, sáng thì vào bệnh viện Gia định học hành, thực hành nghề nghiệp mơ ước tối ngày nào không có trực gác thì đưa vợ đi dạy kèm kiếm thêm tiền độ nhật, rồi lái xe long rong khắp Saigon trước khi về cái phòng trọ bé tí mà tụi nó gọi là tổ ấm. Cái phòng bé tí mà sau 1 năm hai đứa nó phải cưu mang thêm đứa em út của vợ lên học luyện thi , tụi nó chỉ tặc lưỡi “Ừ thì chỉ thêm 1 miệng ăn thôi mà” nhưng cũng là một gánh nặng đáng kể lúc đó. Phần này nó phải mất gần 6 tháng mới viết tiếp được vì nhiều lúc mở máy lên thì bao nhiêu cảm xúc lại ùa về, cho đến khi nó phát hiện ra và biết ơn nhờ những khốn khó ngày đó mà nó hết sức trân quý cuộc sống sau này.

Leave a comment