
Con gái lại hỏi tiếp: ba có nhớ về hồi nhỏ của mình không?
Câu hỏi đơn giản nhưng để trả lời, nó phải nhớ cả một thời mấy mươi năm Mỗi một thời sẽ có những chuyện vui, buồn khác nhau, nhưng để hình thành một con người, một nhân cách không thể tách rời toàn bộ quá trình phát triển của con người đó. Nhân cách và con người phải được phát triển từ lúc ấu thơ. Người lớn vô tình hay hữu ý sẽ tác động đến quá trình phát triển nhân cách này.
Nó là con một trong gia đình mà những người ở thị xã cho là gia đình gia giáo. Hồi nhỏ, ba nó hay dạy nó về niềm tự hào về chuyện học giỏi. Ba nó học rất giỏi, nổi tiếng một thời tại cái thị xã này, gần như đi đâu, gặp ai thì cũng được nghe kể về thành tích học tập của ba nó. Đó là một gánh nặng suốt thời đi học của nó, chỉ sợ kết quả mỗi năm không vừa lòng ba má nó là bị ăn đòn.
Chuyện nó học y cũng có thể do ba nó ngày xưa học giỏi nhưng nhà nội nó nghèo và đông anh em nên ông không đi học bác sĩ được và do mẹ nó cũng không có tiền nên phải đi học nữ hộ sinh. Ấn tượng để nó chọn nghề y cứ từ từ lớn dần trong con người nó theo năm tháng.
Ngoài việc học phải xuất sắc, ba nó còn gieo trong đầu óc non dại của nó niềm tự hào về gia đình. Đối với ba nó mọi thứ đều phải hướng về gia đình. Từ lúc nhỏ nó luôn nghe ba nó kể chuyện về gia đình nhà nội nó, sống nghèo khổ ra sao, ông nội phải đạp xe 20 cây số để đi dạy, nuôi một bầy con, bà nội nuôi heo , làm mắm cho cả nhà ăn, bác hai của nó phải bỏ học ở lại vùng chiến tranh, làm ruộng và chở lúa gạo nuôi cả gia đình. Mỗi lần giỗ chạp, ba nó luôn luôn đèo nó trên xe đạp xuống nhà nội nó để cúng bái. Chỉ có điều làm nó luôn thắc mắc là sau các buổi cúng quảy là những tiệc nhậu tưng bừng và không thiếu lần cãi cọ nảy lửa, vì vậy ngay từ nhỏ mỗi lần thấy các tiệc nhậu nhẹt nó thường sợ xanh mặt cho tới bây giờ.
Niềm tự hào về gia đình còn đến từ bà ngoại nó. Gần như suốt thời gian thơ ấu nó sống ở nhà ngoại, bà kể lúc mới đẻ vì mẹ nó sinh mổ nên không có sữa cho nó bú, bà là người đầu tiên cho nó bú vú da cho tới khi có hộp sữa Guigoz đầu tiên. Không biết có phải không được bú mẹ nên nó không khỏe như các đứa nhỏ cùng trang lứa. Bà ngoại nó hay kể chuyện hồi đó. Hồi đó bà là con gái lớn của ông xã trưởng Tân dương, có căn nhà ngói ba gian hoành tráng, ruộng đất bát ngát, lúa ruộng do người làm thuê mỗi mùa đổ đống đầy sân. Bà về làm dâu của ông Hội đồng ơ xã Mương điều cũng sang giàu không kém. Ông ngoại nó mất từ lâu trước khi nó ra đời, nó chỉ biết ông qua tấm hình trên bàn thờ, cái bàn thờ cẩn xa cừ cổ kính ở giữa nhà. Thời đó mà ông ngoại nó được đi học ở Sài gòn và mỗi bộ đồ là kẹp 1 tờ tiền 100 đồng, nghe nói 100 đồng là nhiều không tưởng tượng. Hồi nhỏ sang giàu là vậy nhưng đến lúc sống ở Sài gòn do Tây đốt nhà, bà ngoại nó phải buôn gánh bán bưng để nuôi mẹ nó và mấy dì và cậu của nó, còn ông ngoại phải đi làm phụ việc cho đài phát thanh Sài gòn và sống ở khu ổ chuột xóm Cầu bông Thị nghè. Đến lúc ông ngoại nó đổ bệnh ung thư họng thì cả nhà lại dắt díu nhau về Sađec và ông mất trong nghèo khó. Sau này nó vẫn nhớ cảnh mỗi lần bà ngoại kể chuyện xưa thì bà hay lấy khăn chậm chậm nước mắt. Có lẽ lúc nhỏ bà là người bạn tâm sự và chăm sóc nó nhiều nhất vì ba nó sau thời gian học tập cải tạo sau giải phóng thì ông về Cao lãnh làm ruộng và 1 tháng đôi lần mới sang thăm mẹ con nó, còn mẹ nó thì đi làm 2 buổi và trực gác nên gần như cả ngày nó chỉ tò tò đi theo bà ngoại. Bà hay đưa nó đi đây đi đó. Nhớ những lần đi theo bà xem cải lương là cả một cực hình. Thị xã ngày xưa có 2 cái rạp, một là rạp cải lương Sa đéc, một rạp chiếu phim Vĩnh phú. Đi coi cải lương là thú giải trí của các ông bà lớn tuổi, nó mà đi theo bà ngoại thì vô rạp giống như là bò lạc vào thành phố. Nhờ xem nhiều tuồng nên sau này cải lương cũng là một dòng nhạc yêu thích của nó. Kỷ niệm lớn nhất của nó là một lần hai bà cháu xem tuồng Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài bà ngoại nó mê coi quá nên ruat cả 2 chân lên ghế, bỏ cả đôi dép mủ, chỉ vài phút sau là đứa nào ăn cắp mất đôi dép. Suốt tuồng cải lương, nó chỉ nhớ cảnh bà ngoại lui cui dưới mấy hàng ghế đi kiếm đôi dép và bà phải đi chân không về nhà trên con đường gập ghềnh ổ gà, chèm nhẹp nước mưa, sình bùn. Và cũng từ đó hễ đến các chỗ đông người, phản xạ tự nhiên của nó là không bao giờ rời chân khỏi giầy dép vì sơ bị ăn cắp.
Người bạn lớn thứ hai ảnh hưởng đến sự phát triển tính cách của nó là ông dượng hai của nó. Dượng là thiếu tá chế độ cũ, sau khi học tập cải tạo về ông ở nhà cạnh bên nhà ngoại và 2 nhà có cái sân chung. Nhà dì hai nó có đến 5 đứa con, bà chị út lớn hơn nó 4 tuổi và đây cũng là những người bạn lớn mà nó phải học hỏi suốt thời niên thiếu. Thời đó chuyện thiếu ăn, thiếu mặc gần như là chuyện của tất cả mọi người, ai cũng phải cố gắng vật lộn để mưu sinh. Sẳn có cái sân rộng giữa hai nhà nên dì hai và dượng hai của nó mở cái quán bán chuối chưng, chè đậu xanh, xôi nếp. Quán bán được chắc cũng gần ba mươi năm và sau này người ta vẫn còn nhớ đến quán chuối xôi ở cái thị xã Sa đéc này như một kỷ niệm đẹp của bọn học trò và các cặp đôi hẹn hò thời đó. Đó cũng là lý do tụi bạn nó ở Sađec hay kêu nó là “Bình chuối”.Mỗi tối khi dì Hai của nó dọn quán ra là nó chuẩn bị đốt bếp un muỗi và lấy cái ghế nhỏ chuẩn bị ngồi nghe Dượng Hai kể chuyện kiếm hiệp, ông có một trí nhớ tuyệt vời và một lối kể chuyện hết sức hấp dẫn. Thế là các anh hùng của tác giả Kim dung lần lượt đi vào trí nhớ của nó, nào là Quách tỉnh, Hoàng Dung, Dương quá, Cô long, Trương Vô kỵ, Triệu Minh,. .. đi vào cái đầu háo hức của nó. Ông kể hay đến nổi sau này khi lớn lên nó phải tìm hết các tác phẩm của Kim Dung và đọc lại cho đến hết. Ông là người cho nó cảm giác được dạy dỗ thông qua các câu chuyện anh hùng, hào kiệt và là người chở che cho nó khi gia đình nó gặp khó khăn.
Ba nó tuy ít ở gần, nhưng mỗi khi nhớ lại thực ra ba nó cũng chỉ dạy nó nhiều điều một cách vô thức.Hồi đó 3 tháng hè ba nó thường mang nó về quê ở Cao lãnh. Nghe nói vùng đó hồi xưa là căn cứ của tiểu đoàn 307 anh hùng. Lúc mới về quê nó rất sợ vì ở đó không có điện, chiều tối đèn dầu leo lét nhìn ra ngoài trời chỉ có những mảng đen ngòm. Hôm nào trời mưa thì còn thê thảm vì hễ bước ra đường là thế nào cũng chụp ếch vì đường đất trơn trượt. Nhà ba nó ở là một căn nhà lá, phía dưới là một bồ lúa thật to, có mấy con gà làm tổ, còn ngủ thì ở trên một cái gác bằng tre. Thăng nhỏ thành thị lần đầu tiên về đây làm mồi cho lũ muỗi và mạt gà mỗi đêm. Riết rồi cũng quen, con gì cắn thì cắn, tối nó vẫn ngủ như chết. Chỉ có chuyện đi ngủ là khó khăn thôi chứ về quê thì các món ăn thì tha hồ thưởng thức với lại ở quê thì đi chơi long rong mà không bị kêu réo là nó thích rồi. Ba nó cũng hay kể chuyện này nọ cho nó, ông xem chỉ tay khá hay nên mấy bà hàng xóm hay nhờ ông xem và khi đó ông hay trổ tài đoán tương lai. Sau này ông cũng chỉ cho nó một số bài về xem ngày đi đường, tính năm vận tháng hạn,… nhưng tài nghệ nó chỉ đủ dùng cho mình thôi. Có thể lúc nhỏ có khi nó rất ghét về quê, nhưng sau này lúc lớn tuổi mỗi khi buồn phiền, căng thẳng trong công việc nó lại muốn trở về quê. Sau này cứ bước về quê là đầu óc nó nhẹ nhàng hẳn, vui cười như trẻ thơ, chỉ có điều không còn thấy ba nó, “ông già tóc bạc ” bơi xuồng qua sông đón nó nữa.
Hồi đó người lớn giải trí bằng cách nhậu, lúc mà ba nó nhậu là lúc nó sợ nhất. Đi đâu với ông mà có tiệc nhậu là nó cảm giác hết sức bất an. Một là trong khi nhậu người ta hay thể hiện hơn người mà khi hơn thua không xong thì sẽ đến đôi co, cãi vả và so găng. Hai là khi ba nó nhậu xong về nhà cái màn chăm sóc người say rượu là tê tái nhất. Ba nó hay bắt nó cạo gió sau khi nhậu, hôm nào không cho “chó ăn chè” thì còn đỡ, chứ thêm màn này thì mùi hôi ám ảnh nó cả tuần. Có lẽ vì vậy mà sau này nó không hề ham bia rượu vì các ấn tượng không hay hồi nhỏ.
Người chăm sóc nó nhiều nhất và có lẽ ảnh hưởng đến viẹc chọn nghề sau này của nó nhiều nhất chắc là má của nó. Má nó là con thứ năm trong gia đình, theo lời của ba nó thì má nó là người được học cao nhất. Ngày trước cả gia đình ngoại nó ở Sai gon. Bà ngoại phải buôn gánh bán bưng để nuôi cả nhà 5 đứa con, 4 gái và 1 trai. Ông ngoại thì do hồi trẻ là con nhà giàu, học hành không tới nơi lại tham gia chống Pháp nên công việc thư ký tại đài phát thanh cũng không đủ chi tiêu cho cả gia đình. Khi nó sinh ra thì ông ngoại đã mất từ lâu rồi nhưng nghe nói ông rất nghiêm khắc và luôn bắt các dì và má nó phải học hành nghiêm chỉnh, vì ông biết chỉ có học mới thoát nghèo, thoát thiếu thốn. Má nó có lẽ được ông cưng nhất nhà vì học giỏi, cho nên hình như má nó chỉ biết học lúc nhỏ và đi làm sau này thôi, còn các việc nữ công gia chánh hình như bà không biết tới. Bà không có tiền đi học bác sĩ nên chỉ thi vào trường Nữ hộ sinh quốc gia thôi. Khi ra trường bà về làm ở Trà ôn, được vài năm thì chuyển về Sa Đéc và gặp gỡ qua mai mối với ba của nó. Nó ra đời sau khi ba mẹ nó cưới nhau 2 năm. Hình như số phận trớ trêu khi cho ba mẹ nó gặp nhau. Hai người cưới nhau nhưng thời gian sống chung không được bao nhiêu, có lẽ do chiến tranh, do công việc, do gia đình, mà thời gian ba mẹ nó ở chung với nhau cho đến cuối đời chắc dồn lại chưa đến 5 năm.
Má nó cũng có thời gian thất nghiệp khoảng 1 năm sau 1975, lúc đó 2 mẹ con phải về Tân dương ở với bà cố, nuôi gà, vịt, nuôi heo, trồng rau lang trong vườn để có cái ăn. Hết giờ tưới rau, đuổi vịt, cho heo ăn thì má con nó lại lấy sách học vần và sách toán ra làm bài. Do ham chơi nên nó phải luôn cố gắng học nhanh và đúng hết để có thể ra chơi với mấy thằng bạn sáng nào cũng lấp ló ngoài ngõ. Tới bây giờ nó vẫn còn nhớ cái xe đạp ba bánh của nó mà mỗi sáng ba, bốn đứa leo lên vừa đạp vừa đẩy chạy khắp xóm, cho đến 1 ngày chở nặng quá bị gãy cổ xe, thế là ăn đòn vì phải khiêng ra tận thị xã mới hàn lại được. Hình như má nó cả đời dành hết thời gian và tiền bạc để chăm sóc cho nó, đến lúc lớn lên ba nó hay nói chỉ có nó mới xin tiền và xài tiền của má nó được mà thôi. Má nó thuộc dạng ít nói, và hình như bà cũng không thích giao thiệp với ai, gần như cả đời bà chỉ biết làm việc chuyên môn và chăm sóc, nuôi dưỡng nó. Chuyện nghề nghiệp của nó sau này có lẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất là từ má của nó. Hồi đó má nó có khám bệnh tại nhà, nó cũng tham gia vào chuyện mua thuốc, xếp bao thuốc và chạy xe đạp đi gọi đồng nghiệp của má nó giúp đỡ khi gặp các ca khó. Thế là từ 9, 10 tuổi nó đã quen với cái mùi hăng hăng của thuốc sát trùng, mùi kháng sinh và các loại dụng cụ sản phụ khoa, đến khi bắt đầu vào nghề thì hết sức quen thuộc, có lẽ duyên nghề hay nghiệp của nó đã bắt đầu từ hồi còn nhỏ. Gần gũi là vậy nhưng nó sau này vẫn khó nói chuyện với má nó, nhất là sau này vất vả vì công việc và đối phó với cơm áo, gạo tiền tại cái Saigon hoa lệ.
Đã có nhiều người lớn đã đi qua cuộc đời thơ ấu của nó, vô tình hay hữu ý có ảnh hưởng đến tính cách, thói quen hay lối sống của trẻ con sau này. Sự chọn lựa nghề nghiệp cũng phần nào bị ảnh hưởng trong quá trình trưởng thành của trẻ con. Nó học được cách kể chuyện có đầu có đuôi, chi tiết từ bà ngoại và ông dượng hai của nó, cách pha trò của ba nó, thói quen cẩn thận, chi li, sạch sẽ của má nó và sự tiếp thu này xảy ra một cách vô thức mà cho đến khi già đầu nó mới nhận ra. Điều hối tiếc lớn nhất là khi những người bạn lớn này đi qua cuộc đời nó, nó không biết mình đã đáp đền đủ yêu thương cho họ chưa? Trong cuộc đời thường những lời cay đắng lại dễ nói ra hơn lời thương yêu đó các bạn.


Leave a comment