Chiều nay gánh mạ sông trang.
Gặp người thành thị chờ sang chuyến đò.
Đợi đò mà chẳng trông đò.
Mắt nhìn theo dõi đôi cò xa xăm…
Cô ơi kia đó là đâu?
Chàng nhìn tôi hỏi sao nghe buồn buồn.
Thưa : nơi đấy có ruộng vườn.
Có chuồng trâu trắng có chuồng trâu đen.
Nơi đây là đất bần hèn.
Cuộc đời như thể là phèn lấm chân.
Chị em con cứ thắc mắc hằng bấy nhiêu năm: “Phèn lắm chân?”
Tại sao ở Sài Gòn mình có nhà, Ba có chỗ đi làm, tụi con có trường để học, Má buôn bán giỏi mà Ba lại đưa cả nhà hồi hương về quê Nội? Không ít lần Má nước mắt ngắn nước mắt dài bảo Ba: “Ông đưa cả nhà về đây nhận bùn”.
Ba lập gia đình trễ, lớn hơn má 11 tuổi, Ba 44 tuổi Má 33 tuổi nheo nhóc 5 con: Chế Hai 8 tuổi, Chế Ba 6 tuổi, Hia Tư 4 tuổi, Chế Năm 2 tuổi, hồi hương về quê chẳng bao lâu đến mùa khai trường má sinh thêm Hia Sáu, 3 năm sau sinh tiếp cậu con trai Út. Cả gia đình 8 người sống trong khu vườn cổ tích với ngọn đèn dầu leo lét khi đêm về.
Đứa con nít nào cũng sợ ma, huống chi tụi nhỏ đang sống trong 1 khu vườn cổ, đến tối chẳng đứa nào dám ra khỏi giường. Nhà có 2 cái giường để ngủ: 1 là ba , chế Ba , hia Tư và chế Năm; 1 là má , chế Hai, hia Sáu, và sau này thêm nữa là cậu Út.
Đêm ba ngủ không yên vì phải dắt tụi nhỏ đi tiểu đêm. Lần lượt đứa lớn, đứa nhỏ, vừa chợp mắt được 1 chút thì con gái lay ba dậy hỏi:
“Ba ơi con gì nó kêu to lắm?”
Ba trấn an: -Ngủ đi con. Nhưng khi con gái vừa thiu thiu ngủ thì con gì lại tiếp tục kêu, biết là có ba trông cho ngủ nên con nhắm mắt ngủ ngoan. May là Ba dễ ngủ nên khi con nhỏ còn rình rập tìm con gì kêu thì Ba đã ngủ. Có lẽ vì cả ngày mệt mõi; cuốc đất, trồng cây, khai phá khu vườn, tìm kế sinh nhai cho cả nhà nên vừa đặt lưng xuống giường là Ba ngủ thật ngon.
Con chưa từng nghe Ba than cực than khổ khi về quê Nội. Ba chỉ chăm chỉ làm quần quật suốt ngày, Má bảo Ba như thiên lôi sai đâu đánh đó. Mà cũng lạ Ba làm cực lắm tay chai sần chai sượng đến mà thương.
(Còn đâu bàn tay thon dài mềm mại từng dắt chị em con đi sở thú, đi băng qua đường, đi đến trường, bàn tay cầm lấy bàn tay từng đứa con dạy cầm bút nắn nót những con chữ đầu tiên.)
Ba cố gắng lắm, nhưng nuôi cút thì cút chết đứt cả vốn. Ra đường chạy xe ôm đúng 1 ngày về bảo với Má:”Không làm nghề này được vì tự nhiên chở 1 cô lạ hoắc ngồi sau lưng?”. Lúng ta lúng túng 1 hồi làm té người ta.
Về quê làm ruộng thì không bao giờ trúng lúa như người ở quê. Chỉ tội nghiệp chị em tụi con: đứa nhỏ, đứa lớn ốm tong teo; đứa trước, đứa sau vác lúa té trầy đầu gối; đêm ngủ còn nghe lúa làm xót cả người.
Sau mấy mùa làm lúa con không nhớ là tại sao khi chị em con theo ba ra ruộng còn con lại ở nhà? Khư khư với cuốn tập cuốn sách: đi vo gạo cuốn tập vẫn trước mặt, nấu nồi cháo cho cả nhà bằng rơm, cuốn tập vẫn nằm kế bên, tay lấy rơm cho vào lò, miệng đọc bài học thuộc lòng vang vang vì ở nhà 1 mình rất sợ ma.
Ngày chuẩn bị hồi hương ba vẽ cho Má và tụi con viễn cảnh : hồ sen, ao cá vườn cây, trăng thanh, gió mát của 1 làng quê thanh bình. Mộng ước và đời thực là 2 đường thẳng song song chưa 1 lần gặp nhau.
Sài Gòn là nỗi nhớ khôn nguôi…là những đứa bạn mùa sau không còn gặp lại, là cái cặp trên vai lăn lông lốc nào bút chì, bút mực, bút màu, tung toe trên hành lang dãy lớp học 1 chiều lạc Ba lạc Chế.
Chỉ mấy ngày sau khi đi học tụi nhỏ quê mình không còn dám tốc váy vì tụi nó biết dưới váy con có mặc quần và trong đầu con có chữ và sau lưng con là Chế Hai cũng “bà chằn” không kém. Bắt đầu học lớp 2 ở Trường làng.Trường không cổng trước cổng sau, bàn ghế xộc xệch nhiều hôm vào sớm chểm chệ trên bàn xếp hàng dọc ngang chi chít phân người. Cả đám học trò hì hụi khiêng bàn ra khỏi lớp và chen chúc ngồi học trên những cái bàn ọp ẹp còn lại. Câu chuyện ma trường Đinh Tiên Hoàng không còn là nỗi sợ hãi mà trở thành niềm mong ước ngày trở lại.
Trường Đinh Tiên Hoàng nổi tiếng vì có nhiều ma trên cây Lê Ki Ma quanh sân trường.Trường có 2 cổng: cổng trước và cổng sau; 2 chị em học cùng trường chiều về Ba đón. Chế Hai 7 tuổi học lớp 2, con 5 tuổi học lớp 1, tan trường ba đón cổng trước con lạc ở cổng sau. Lúc tìm thấy Ba, vừa mệt vừa sợ tay quẹt nước mắt tay chỉ chế Hai bảo : “Con quỷ sứ mày, mày không chờ tao.” Chắc là mừng vì không lạc mất em nên bà Chế không chấp câu nói hỗn không biết học từ đâu? Trong nhà Ba Má đã dạy phải gọi chị lớn là Chế. Lớn 1 chút con mới biết chế là từ dùng để gọi chị lớn và Hia là từ dùng để gọi anh lớn trong gia đình người Tàu. Ba gọi cô con, bác con là Hia là Chế và má con cũng được các em của Má gọi là Chế. Và khi đi học ở quê; ngoài chuyện bị tụi con trai ở quê tốc váy xem có mặc quần không tụi nó còn xách mé gọi con Ba Tàu. Ba Tàu hay không Ba Tàu có gì khác nhau?
” Cúc ơi Cúc có nhớ không ?
Bạn nhỏ cùng bàn vắng bóng lớp 2 .”
Cúc – cô bạn lớp trưởng 1G trường Đinh Tiên Hoàng khóa học năm 1975. Mùa sau …sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 chẳng biết bạn mình đi đâu về đâu?
Cô giáo dạy lớp 2 trường Làng đang mang bầu đứa con đầu lòng, ngày cuối trước sinh em bé cô dạy cả lớp bao tập. Chỉ 1 lần thôi mà sau này lớn lên bao nhiêu lần bao tập là bấy nhiêu lần nhớ đến cô. Cô gọi ba là cũ vì ba và mẹ cô là chị em cô cậu thân và gần lắm, nhà mẹ cô ở trên nền nhà ngày xưa của Nội có cái hồ chứa nước bán nước ngọt cho cả xóm Chợ. Vậy là Chế Hai có thêm đôi thùng và cái đòn gánh tập gánh nước ngọt về đổ vào cái khạp da bò duy nhất mang từ Sài Gòn về dành để nấu ăn và nấu nước uống. Lần đầu chế Hai chỉ gánh được một phần 3 thùng và gánh bằng 2 vai … rồi tăng dần lên gánh nửa thùng rồi gánh đầy 1 thùng, gánh bằng 1 vai kẽo cà kẽo kịt như cô thôn nữ trên con đường đầy đá cuội với đôi bàn chân trần. Về quê Hai vừa là chị vừa là mẹ thay má chăm mấy đứa em thò lõ mũi xanh suy dinh dưỡng triền miên.
Nhật ký của chế Hai bao lần trộm đọc là những dòng chữ đầy yêu thương ba viết cho cô con gái đầu lòng. Ba cẩn thận lý giải từ cái tên ba đặt, từ cái răng đầu tiên con gái cưng đau và khóc, cái đánh đòn đầu tiên ba đánh Hai. Bao yêu thương kỳ vọng Ba dành cho tụi con trên con chữ, càng không trả lời được câu hỏi: “Tại sao tụi con phải xuôi ngược nơi ngả ba đường quê Nội thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu chữ , thiếu đủ thứ?”.
Ba mong 1 thằng con trai nhưng con là gái, con gái nhỏ trước 1 đứa con trai nhỏ hơn. Con lẽo đẽo theo ba nẹp từng vách lá, cánh én, đóng hàng rào, làm cổng quanh nhà. Búa, đe, đinh dài, đinh ngắn, tuột vít… không thứ nào thoát khỏi tay con. Cái tủ từ để đứng con sửa thành tủ nằm để tập sách cho vừa. Mấy hôm không vừa ý lật lại thành tủ đứng: vừa để sách, vừa ngồi, vừa thành cái hốc giấu những trang tập viết sai rồi xé. Có hôm viết bài gần xong lỡ tay viết sai 1 chữ: bậm môi, xé, giấu và cặm cụi viết lại cả bài. Một hôm ba phát hiện, không nhớ có bị đòn không; nhưng từ đó về sau không dám xé tập nữa và cố gắng viết chữ thật đẹp, thật cẩn thận.
Nhà nhỏ lắm.
Mưa bão năm Thìn 1976 gió rít từng hồi. Nằm trong giường nghe mưa và nhìn cái nhà lá đong đưa theo từng cơn giông. Nhớ lắm ngôi nhà bé bé má con xin tiền Ngoại: 20 cây vàng mua nhà ra riêng khi con chưa đầy tuổi còn Má thì đầy khổ khi sống cùng nhà Nội. Ngày Má dắt Ba và tụi con về nhà ở Trại Gà Thanh Tâm bà Nội ghé qua và bảo: -“Nhà như cái chuồng bò!”.
Tụi con thương cái chuồng bò đó biết bao nhiêu! Cách 1 con hẽm, qua cái cầu sắt là đến Sở Thú, qua cầu Phan Thanh Giản quẹo 1 chút là đến trường học. 5 năm ở ngôi nhà đấy từ cái chuồng bò Má thức khuya dậy sớm làm bánh bán khắp các chợ Gò Vấp, Bà Chiểu, Đa Kao nuôi chồng nuôi con xây nhà có cầu thang có gác cho tụi con ăn học đàng hoàng. Vậy mà khi cái chuồng bò thành 1 cái nhà tươm tất thì 1 chiều sau ngày 30 tháng 4 mấy tháng nhà mình treo bảng: ” Bán nhà”. Sau này, chị em con vẫn ước ao lớn hơn khôn hơn vào ngày ấy để không phải lanh quanh, lẩn quẩn ở ngã ba đường quê Nội suốt bao nhiêu năm.
Giông bão vẫn chưa tan Ba và Má lấy cái cây dài chống ngay cửa cái, chỉ cần gió bật được cửa chính gió tràn vào nhà thì tổ ấm bé bỏng của ngôi nhà thành đống mây tre lá. Tan nát cả lòng khi thằng em 4 tuổi nhìn cái nhà xiêu vẹo dột tứ phía
khóc bảo: “Có gì má cột tụi con lại, có chết thì chết 1 chùm.”. Rồi bão cũng tan, mưa cũng tạnh, ngôi nhà lại bình yên trong khu vườn nhỏ. Mười một năm con ở quê, nhà mình thay vài ba xác lá, mấy lần nhà mới thay nhà cũ mà vẫn là mái lá nhà tranh đến ngày con gái lấy chồng.
Giông gió mỗi mùa đến hẹn lại lên nhưng gia đình mình bình yên trong khu vườn cổ tích. Giông gió cuộc đời không chạm đến cửa ngôi nhà; tụi nhỏ bình yên trong ngôi nhà đầy đủ ba má đói no sướng khổ cùng nhau: bữa cơm nào cũng đầy đủ 8 ghế cho dù đó là nồi cháo trắng và chén muối hột trắng rang khô đâm nhuyễn.
Lớn một chút tụi nhỏ tháo vát hơn biết hái rau trong vườn, biết đào khoai lang nấu chín, biết mài khoai mì làm bánh, biết bày đồ hàng dụ em ăn, dỗ em chơi. Trò chơi không thiếu là cất nhà chòi bán đồ ăn, bán bánh. Khách hàng từ Sài Gòn trèo xuống mấy cây dừa mới vừa ra lưỡi mèo ăn no bụng lại trèo lên cây dừa về lại Sài Gòn. Mấy cây dừa tơ nhờ tụi nhỏ leo trèo nhún nhẩy oằn sai trái ngọt. Hồ sen, ao cá thành hình trăng thanh gió mát mương hồ đầy nước liếp vườn đâu vào đấy. Liếp đứa nào đứa nấy tự quản tự thu hoạch cây trái. Tát đìa bằng gàu tay, gàu vai, vét đìa, xây bờ bao ngạn nước trong mương trong leo lẻo: thêm trò ôm bình nhựa 5 lít tập bơi, bắt chuồn chuồn cắn rún. Đám trẻ con từ Sài Gòn ngày nào chân ướt chân ráo mới về quê giờ có cả 1 khu vườn cổ tích. Chiều chiều có khách xuống mua ổi, mua khế tỉ tê bảo cùng nhau: mấy đứa nhỏ nhà này ngoan lắm không hề biết chửi thề nói tục, mà sao ba má xấu thế mà đẻ con đứa nào cũng đẹp cũng sáng sủa. Thời gian, sự hy sinh lặng thầm cho đám con đang tuổi ăn tuổi học, cộng thêm cái nghèo của vùng đất phèn chân lấm tay bùn khiến Ba và Má đánh mất tuổi thanh xuân lúc nào chẳng hay chẳng biết.
Mấy năm học trường làng, cuối năm có bao nhiêu giải thưởng là con nhà đó gom hết đem về nhà. Tập khen thưởng đen có trắng có học hết cả 12 lớp vẫn còn.
Khu vườn cổ tích hồi sinh chẳng làm vơi nỗi nhớ về căn nhà chốn thị thành có đèn điện, có nước sạch, có ti vi, có trường học, có bục giảng cao chồng ngồng vinh dự đứng ngày phát thưởng. Cô bạn thân và ước vọng được 1 lần về nơi sinh ra âm thầm lớn lên theo cùng năm tháng.
“Quê tôi có sóc có giồng
Có đường ba nẽo có đồng lúa xanh”
Đường ba nẽo trong ký ức tuổi thơ giống như hình người nằm. Chùa ông Bổn nằm ngay ngã Ba ở vị trí cái đầu của hình người, chân khép lại duỗi thẳng, 2 tay dang ngang vuông góc thân người.
Ba kể ngôi chùa này là do ông cố Nội xây và đất nơi này ngày xưa của nhà mình cò bay thẳng cánh. Nhà ông Nội nằm bên tay phải xéo xéo đối diện cổng chùa giờ là nhà của người ta.
Một năm bão to trường làng bị sập cả lớp phải vào chùa ông Bổn để học bàn ghế ngổn ngang Thầy vẫn dạy trò vẫn học, giờ gọi là trải nghiệm đáng nhớ không tìm lại được. Học giỏi cả Toán cả Văn và tất tần tật các môn là nhờ chế Hai học trước 1 lớp…cuối năm học là chế Ba tự động gom hết vừa sách vừa vở làm bửu bối nhất là mấy quyển bài tập đã được ghi chép sửa cẩn thận. Nhà có duy nhất 1 cái bàn ban ngày là bàn ăn cơm tối đến là bàn học đứa nào ngồi chỗ đứa nấy, đèn dầu leo lét 6 chị em cũng châu đầu để học nhiều khi khét lẹt mùi tóc cháy và không ít lần đứa này vẩy mực vào tập đứa kia : mặt mũi tèm lem vừa mực vừa nước mũi vừa nước mắt.
Đường ba nẽo: 1 nẽo hình đôi chân duỗi thẳng là con đường đi về khu vườn cổ tích, xa hơn nữa con đường này dẫn về quê Ngoại.
Cánh tay rẽ phải là đường dẫn đến cây Da về Chùa Tháp. Thấp thoáng mỗi chiều là hình ảnh Má oằn vai gánh gạo về nuôi chồng, nuôi con, nuôi lớn ước mơ được trở về nơi sinh ra- nơi có những kỹ niệm dấu yêu thời thơ ấu- đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ.
Cánh tay rẽ trái là đường đến trường Làng và cũng là con đường trở lại Sài Gòn nơi sinh ra và nơi mong ước được tìm về. Con đường trở lại Sài Gòn dứt khoát và liều lĩnh sau khi con gom 2 cái áo bà ba 1 trắng 1 tím châm lửa đốt cháy rụi. Vườn rộng rào thưa, nhà có cổng tối nào cũng khóa, trèo qua cổng rào , lên xe về lại Sài Gòn.
Trên chuyến xe đò, chật cứng vừa người vừa gà vừa vịt; ngồi thụp dưới sàn cho đến tận Trà Vinh.
Chế Hai chưa ra trường , Hia Tư đi học ngành Tiện ở Vĩnh Long, thi Y là lựa chọn lội ngược dòng khi từ bỏ chỗ ngồi trong giảng đường khoa Văn khóa 87C trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh. Những ngày chờ kết quả thi dài dằng dặc, chẳng biết đi đâu về đâu? Chế Năm thành chị lớn cùng Má tảo tần lo cho em nuôi anh chị đi học xa bằng mâm bánh quai vạc tự làm tự bán quanh quẩn ngả ba đường quê Nội. Hai thằng em trai nhỏ như 2 con cò lặn lội trong khu vườn nhiều tôm cá – sinh ra và lớn lên ở quê trông giống như những đứa trẻ nhà quê thực thụ. Đường ba nẽo hướng này về lại Sài Gòn. Quê hương không có phải là nơi để yêu có phải là nơi để sống?
Con là ai? Cháu ông địa chủ, cháu ông Nội … cháu của 1 dòng họ “danh gia vọng tộc” nhưng ba con má con nghèo và chị em con nheo nhóc thì quá khứ vẻ vang kia chỉ là quá khứ.
Một tuần sau con trở về ngả ba đường, 6 chị em ngồi quây quần bên quán nước chia sẻ 1 niềm vui chế Ba đậu Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh khoa Y.
Lịch sử lần đầu tiên 1 học sinh trường Huyện thi chính quy Y và đậu Y.
Sau này có nhiều học sinh trường Huyện thi Y đậu Y, nhưng chắc chắn câu chuyện học sinh cá biệt 12 thi đậu chính quy sư phạm ngành Văn khối C (Văn Sử Địa) Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh không tiếp tục học Văn mà học lại thi lại ngành Y là câu chuyện có 1 không 2. Nghịch cảnh mang tên số phận? Lội ngược dòng hay trèo leo đầy thách thức, quên thân phận con nhà nghèo chọn Y Khoa học lại khối B: Toán Hóa Sinh và thi đậu chính quy ngành Y của 1 Trường Đại Học nổi tiếng và danh giá – Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh. Một câu chuyện nếu có dựng thành phim, viết thành sách thì cũng đáng làm đáng viết.
Cả nhà mừng và lo lắm!Vườn cổ tích có thêm câu chuyện cổ tích- 20 tuổi con chính thức trở lại Sài Gòn tiếp tục hoàn thành ước mơ ngày còn bé được trở lại sống và học nơi đã sinh ra.
Đường ba nẽo quê Nội trở thành kỷ niệm, những tháng ngày lăn lóc nơi đây cho con một vốn sống dùng hoài không hết. Từ những hiểu biết các loài cây cỏ, những thú vui leo trèo, những trò chơi tuổi thơ: 1 mình nhảy xa, nhảy cao, lộn mèo; làm vườn thật sạch chỉ bằng 1 con dao và 1 cây chổi; xắt lá cây thành sợi nhanh không cần nhìn dao kết quả của 1 mùa hè lớp 8 ròng rả 3 tháng chơi bán đồ hàng trong khu vườn tuổi thơ (Con bé gái gầy thật gầy, mắt to thật to dưới đáy lu nước thì thầm: mùa hè cuối cùng được chơi cùng những trò chơi tuổi thơ trong khu vườn cổ tích)
Cám ơn 11 năm: sống
hồn nhiên, lớn hồn nhiên như cây cỏ trong khu vườn cổ tích có gia đình nghèo khó đầy yêu thương sẻ chia.
Như 1 lời tạ lỗi cùng với những người yêu thương trong những ngày con đã lớn.
Cuộc sống thành thị với muôn vàn khó khăn cuốn trôi giấc mộng thời niên thiếu.
Quy luật nước mắt chảy xuôi khi làm mẹ khiến con quên bổn phận làm con làm chị.
Điều con chưa kể còn là lời dặn dò 2 đứa con gái con là ai, đi đâu, ở đâu làm gì cũng nên nhớ về gia đình chia sẻ những yêu thương khi còn đủ Ba đủ Mẹ.
“Quê hương nếu ai không nhớ.
Sẽ không lớn nỗi thành người.”
Lạc bước về quê Nội, mong ngóng trở về nơi đã được sinh ra.
Lạc những người yêu thương trở về nơi sinh ra băn khoăn hoài 1 câu hỏi :
– ” Con còn là con ba? Những ngày con đã lớn.”
Điều con chưa kể : Vẫn là đường ba nẽo quê Nội với Khu Vườn Cổ Tích mong chờ 1 ngày được hồi sinh.

Leave a comment